VH hợp đồng vs VH gia đình

Đọc bài lý luận linh tinh của cái gọi là ban VH của VNNét (kiểu anh Tuấn ái khoe ở nhà có cây piano điện Yamaha thuộc loại mắc cha đời dùng để học đánh nhạc cổ điển, hê hê, chả hiểu anh đánh được mấy bài hay tán được mấy cô giáo trường nhạc rồi?). Đúng ra định bỏ qua rồi, cũng kiểu như VN ta lớn hay nhỏ trên tờ TNiên của chính trị gia mang lốt nhà báo anh Khế, nhưng thấy bác Nguyên Ngọc muốn nói một cái ý lạc hậu bà cố từ cách nay 30 năm mà cũng phải mượn lời một anh bạn Indo nào đó, phát chán, nên múa bút chút buổi sáng cho vui, hê hê, 2 bài kia đây http://vietnamnet.vn/vanhoa/2008/07/792494/, http://vietnamnet.vn/vanhoa/2008/07/792376/

Văn hóa là khái niệm giúp con người tìm hiểu bản thân và xã hội. Vì vậy mà mỗi cộng đồng hoặc ý thức hệ khác nhau đều có những cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề văn hóa. Nguyên bộ trưởng văn hóa thông tin Nguyễn Khoa Điềm (1) cùng nhóm biên soạn công trình bản sắc văn hóa Việt Nam năm 2000 từng ghi nhận có trên 100 định nghĩa khác nhau về văn hóa trên thế giới. Sách giáo khoa nhập môn văn hóa của Phan Ngọc (2) còn chỉ ra có đến 400 định nghĩa cho khái niệm văn hóa. Cách đặt vấn đề khác nhau có thể là nguyên nhân kéo theo các góc nhìn trái ngược đối với cùng một bản chất vấn đề.

Nhìn văn hóa từ góc độ ứng xử (bản thân, xã hội, môi trường tự nhiên) sẽ thấy độ chênh nhanh-chậm, cao-thấp trong phát triển. Xuất phát điểm này có thể được diễn giải như là sự lạc hậu của văn hóa Việt Nam đối với nền văn minh kỹ trị (3), hệ giá trị lan toả cùng chủ nghĩa tư bản và toàn cầu hóa, hay hai chiều đối nghịch của cùng một tiến trình phát triển (4). Tuy nhiên, cách nhìn này có thể bị giới hạn trong khuôn khổ của một hệ tư duy hậu thuộc địa. Nếu đặt cơ sở là sự bình đẳng giữa các cộng đồng người, coi văn hóa là phần tử trong một tập hợp khái niệm rộng hơn là văn minh, như Huntington (5) từng phân tích, thì sự khác biệt giữa hai tầng văn hóa có thể chẳng bao giờ xóa bỏ được do thuộc về hai nền văn minh đối lập nhau.

Trong bài giảng nhập môn về văn hóa, chuyên gia nhân học Bronislaw Malinowski (6) từng đề nghị xét đến văn hóa từ góc độ tổ chức xã hội. Tập hợp người hiện đại tồn tại trong dạng nhóm nhờ mối dây liên kết mà Roussau gọi là hợp đồng xã hội. Các quan hệ này dễ dàng chuyển hóa từ dạng truyền thống sang thành các định chế pháp lý: hôn thú và luật hôn nhân gia đình, di chúc và quyền thừa kế, trách nhiệm nuôi dưỡng cha mẹ già, qui tắc mua bán và luật thương mại, qui ước khu phố văn minh và nguyên tắc ứng xử xã hội hiện đại… Môi trường sống nặng về hợp đồng nhất chính là các tổ chức sản xuất, kinh doanh, và dịch vụ, tức là các đơn vị hoạt động kinh tế trong thị trường tự do. Trong mối quan hệ này các bên đều bình đẳng trong phân xử, tự nguyện và đầy đủ tư duy khi tham gia mối quan hệ hợp đồng, dân chủ trong thương lượng và xây dựng qui ước tạm chung sống. Những nguyên tắc cơ bản đó, tưởng chừng như không cần giải thích nữa ở các nền kinh tế phương Tây, lại có thể là những vấn đề vô cùng xa lạ và khó tiếp nhận đối với nhân công tại Việt Nam.

Người Việt vẫn quen sống trong các định chế mang tính gia đình, trách nhiệm bảo vệ bố mẹ, anh em (phạm pháp – tức vi phạm hợp đồng xã hội) vẫn thường đứng trên mọi định chế pháp luật. Mối quan hệ gia đình, trên dưới, lớn nhỏ vẫn còn gây căng thẳng trong quan hệ công sở, nơi người ta vẫn còn nghe những danh xưng như trong gia đình, và việc người trẻ lãnh đạo người già vẫn luôn là chuyện khó xử. Nhìn rộng hơn, văn hóa hợp đồng vẫn còn là thứ xa lạ sau nhiều năm du nhập vào cộng đồng người Việt. Trên dưới một thế kỷ trước, kinh doanh bị coi là điều xấu xa trong một đất nước nặng về Khổng giáo. Mới cách đây không lâu, buôn bán còn bị coi là thiếu đạo đức trong một xã hội mà mọi nhu cầu đã được kế hoạch hóa sẵn từ trung ương.

Như vậy, có thể thấy, việc đòi hỏi văn hóa Việt Nam phải đuổi kịp văn minh kỹ trị, hay nều nhìn từ góc cạnh khác tức là phải thay thế bản sắc dân tộc bằng một hệ văn hóa đến từ một nền văn minh hoàn toàn khác, là điều không tưởng. Cách hợp lý hơn, mà lịch sử Việt Nam đã từng ghi nhận, là bản địa hóa những nét văn hóa du nhập từ bên ngoài. Vấn đề là để làm được chuyện đó thì cần phải có những nhà văn hóa Việt Nam đủ cả trình độ chuyên môn lẫn bản lĩnh xã hội, một chuyện mà chúng ta có thể hi vọng. Các bậc tiền bối như Petrus Ký, Paulus Của, Gilbert Chiếu,… đã từng thành công trong việc sử dụng chữ quốc ngữ để đem văn minh phương Tây hội nhập với kho tàng văn hóa Việt Nam. Một trào lưu hội nhập mới sẽ khó khăn nhưng không phải là chuyện không thể làm được.

Ghi chú:

(1). Nguyễn Khoa Điềm chủ biên 2001, Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, NXB Chính trị quốc gia

(2) Phan Ngọc 1994, Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội

(3) Bài dẫn nhập của Ban văn hóa VietnamNet cho chuyên đề ‘Sự phát triển lệch pha giữa kinh tế và văn hóa’ http://vietnamnet.vn/vanhoa/2008/07/792376/

(4) Bài của Nguyên Ngọc tham gia chuyên đề ‘Sự phát triển lệch pha giữa kinh tế và văn hóa’ http://vietnamnet.vn/vanhoa/2008/07/792494/

(5) Samuel Huntington 1996, The Clash of Civilisations and the Remaking of World Order, qua bản dịch tiếng Ba Lan, Zderzenie Cywilizacji, MUZA Warszawa 1997, 2001

(6) Bronislaw Malinowski 1944, A scientific theory of culture, University of North Carolina

Hê hê, pà con chú pác chị iem ném đá đi, hay nhìn thấy trích dẫn nhiều quá nên sợ rồi, hi hi.

Tags:

One Response to “VH hợp đồng vs VH gia đình”

  1. free Says:

    Mới đọc đến cái vụ học nhạc cổ điển bằng piano điện tử đã mắc cuời rồi. Đi làm việc đã, đọc tiếp sau

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


%d bloggers like this: