Giáo hoàng Biển Đức đệ thập lục

Gần đây bà Madeleine Albright có ra quyển sách và 10 lời khuyên trên tờ International Herald Tribune tới tổng thống nhiệm kỳ thứ 44 của nước Mỹ về chính sách ngoại giao, nhưng tui chỉ thông báo vậy cho pà con nào có quan tâm, còn hiện tui đang mắc đọc quyển viết về cuộc đời Giáo hoàng Benedict 16, viết từ thời ổng còn là LM Joseph Ratzinger, năm 2000, tác giả là nhà báo của tờ National Catholic Reporter – John L Allen Jr., tái xuất bản năm 2005, NXB Continuum. Hồi trước tui cũng có viết một bài về quan điểm eschatology của ổng http://blog.360.yahoo.com/blog-c4fwAN4zeqi8D.JXuWThXsk0IbGsY37B?p=60#comments, nhưng trong quyển này có vẻ nói rộng hơn về hệ tư tưởng của ông giáo hoàng hiện nay, mà tui quan tâm nhất là ‘cuộc chiến’ của ổng với các phong trào nổi dậy bên trong giáo hội, gọi là Authentic Liberation – trong chương 4 của quyển sách này. Hi vọng đọc xong sẽ hiểu thêm về ‘phong trào đấu tranh’ đang tiếp diễn của giáo hội Vn http://blog.360.yahoo.com/blog-c4fwAN4zeqi8D.JXuWThXsk0IbGsY37B?p=506#comments

Hình lấy từ đây http://www.flickr.com/photos/miqul/155732687/. Về mặt chính trị nội bộ hay con người của LM Ratzinger chắc pà con đã ít nhiều nghe về tin đồn ổng có tham gia đưa Karol Wojtyla lên làm giáo hoàng không phải người Ý đầu tiên năm 78, hay biết ổng là người đứng đầu bộ lo về rao giảng đức tin – là cơ quan quan trọng nhất về phần ‘hồn’ của tòa thánh, nhưng có lẽ ít người có thông tin về những gì đã xảy ra trong giai đoạn có thể tạm gọi là khủng hoảng về lòng tin hay phép rao giải và cách giải thích kinh thánh bên trong giáo hội La Mã, là phần mà tui nghĩ là đáng quan tâm nhất khi nhắc đến hệ tư tưởng của vị giáo hoàng đương nhiệm. Cũng cần nhắc thêm là trong sách Allen có nói đến quan điểm phê bình (critical thinking – không phải là chê trách nhé) của Ratzinger đối với nội dung cũng như cách thức lập ra Công đồng Vatincan 2 (1962-1965, nếu bạn nào quan tâm đến công giáo La Mã sẽ hiểu tầm quan trọng của cái mốc lịch sử này, nếu théc méc thì để bữa nào rảnh tui sẽ viết thêm), ví dụ như chỉ có vài trăm linh mục là thực sự có mặt đủ hết trong các cuộc họp. Allen cũng nhắc tới cái turning point trong suy nghĩ của Ratzinger, nhưng tui cũng hỏng có thời gian và công sức để đào bới thêm trong cái vụ này, chỉ tập trung quanh chương 4 thôi là đủ mệt rồi (các chương khác đã lướt qua rồi nhé, hê hê, không lệch lạc đâu mà lo). Cũng cần nói thêm vài câu về tác giả John Allen, ông này được CNN mời làm bình luận viên chuyên về các vấn đề của Vatican trong thời gian Conclave chọn giáo hoàng vừa rồi, và quyển tiểu sử của ổng viết về Ratzinger cũng khá lạ, bắt đầu bằng việc giới thiệu cuộc đời của tác giả trước, lấy cái mốc ngày sinh cũng chính là ngày bắt đầu công đồng 2, theo tui có lẽ là mở rộng ra thành ‘tiểu sử’ của cả giáo hội trung ương, hoặc ám chỉ tiểu sử của Ratzinger cũng chính là lịch sử của giáo hội. Thôi tui quay qua đọc tiếp và sẽ viết tiếp đây.

Theo ghi nhận của Allen ta có thể thấy Ratzinger rất vững về Marxism, như trong đoạn biên niên sử năm 1968 (tr.82) ghi nhận ông dạy ở Tubingen, nơi được coi là trung tâm tư tưởng của Marxism. Cũng trong sách (tr.103) ta sẽ thấy những tố chất đặc biệt cần thiết sau này của ông, ví dụ như có sinh viên nói ông có khả năng nhớ và trích dẫn lại giống hệt những đoạn văn quan trọng trong các quyển sách từng đọc, có khi trước đó hàng chục năm. Khả năng giảng bài của ông cũng khiến dân chúng trong thị trấn nhiều lúc cũng kéo vào trường nghe giảng trước khi đi làm, và sinh viên thì nghe xong chỉ muốn vào nhà thờ cầu nguyện, và có trường hợp sinh viên theo đạo Anh giáo chuyển sang công giáo La Mã. Ratzinger cũng có khả năng lắng nghe và ghi nhớ từng ý kiến của seminarium rồi tổng hợp và chuyển thành đề tài tranh luận. Allen dựa vào các phỏng vấn sv và nghiên cứu sinh của Ratzinger để chia họ thành 2 nhóm – thể hiện 2 tư tưởng trước và sau mốc đổi chiều trong giai đoạn 1966-1969: trước đó là những người có tư tưởng cải tổ, muốn mở rộng ranh giới tư tưởng đạo giáo, còn sau đó là những người theo phái chính thống, luôn canh giữ ranh giới giữa đạo và đời.

Mốc lịch sử 1968 không chỉ là sự thay đổi quan điểm của Ratzinger, thời điểm này cũng ghi dấu sự xuất hiện của thiên hướng tạm gọi là đạo tự do – liberal theology – cho phép các linh mục ở Nam Mỹ vác súng AK theo cánh tả chống lại chính quyền – có nhiều hơi hướng của Marxism với các buổi hội họp dân dã thay vì nhà thờ, bàn chuyện đạo bên cạnh các vấn đề xã hội. Allen tóm tắt tư tưởng này trong bốn ý chính, thứ nhất là họ phát triển văn bản Gaudium et spes của công đồng 2, cho rằng nhà thờ phải sát cánh với người nghèo , thứ hai là cho phép dùng bạo lực để đấu tranh, thứ ba là đặt ra khái niệm tội lỗi có hệ thống, và thứ tư là orthopraxis, là khái niệm ngược lại với sự chính thống orthodoxy, cổ xúy hành động hơn là giữ nguyên trên lý thuyết. Các khái niệm của Marxism như giá trị thặng du (surplus value) và sự khác biệt giữ giá trị lao động và lương lao động xuất hiện nhiều trong các lý giải về xã hội được dùng trong hệ tư tưởng công giáo tự do này. Giáo xứ được phân thành hệ thống tổ chức với các đơn vị cỡ tiểu đội 10-30 người, nhiều khi do tu sĩ lãnh đạo. Ví dụ như ở Brazil trong thập niên 1980, lực lượng Carlos Alberto Libanio Christo nói có 80-100.000 tiểu đội kiểu như vậy (cộng đồng cơ sở – hi hi, theo kiểu tiếng Việt chắc là tổ dân phố hay làng văn hóa).

Có vẻ như con đường ‘tiến thân’ của LM Ratzinger cũng chính là ‘cuộc chiến’ chống lại dòng tư tưởng ‘tự do’ trong phép giảng của đạo công giáo La Mã, bảo vệ các giá trị ‘truyền thống’. Từ giảng viên được ‘rút’ lên làm tổng giám mục Munich, ngay sau đó được phong Hồng y (tước vị rất quan trọng cho ai muốn tác động vào chính sách của Vatican, bao gồm cả việc chọn giáo hoàng mới) và được nhắc tên trong danh sách người có khả năng kế vị giáo hoàng và
o năm 1978. Quan điểm của Ratzinger cũng được Wojtyla tán thành, từ khi còn ‘chưa biết’ nhau, ví dụ như quyết định cho phép lưu hành sách của Ratzinger trong giáo phận Krakow (khi giáo hoàng John Paul II về sau, lúc đó vẫn còn làm tổng giám mục ở đây), trong khi vị tổng giám mục Warszawa lại không cho phép. Nhưng theo như tổng kết của Allen thì tất cả đồng minh của Ratzinger sau này đều giữ quyền cao chức trọng, giữ các bộ trong Vatican (nhớ là từ năm 2000 nhé, trước khi Ratzinger lên làm giáo hoàng), còn phe đối lập thì hoặc low profile, hoặc bị chính Ratzinger kỷ luật, hoặc thậm chí trục xuất ra khỏi giáo hội luôn.

Chương 4 đọc cực hay, đúng là lịch sử 1 cuộc chiến quyền lực bên trong giáo hội luôn, với cặp bài trùng Gioan Phao-lồ đệ nhị và người sau này sẽ thành Biển Đức đệ thập lục ‘chống lại’ phe Nam Mỹ. Ví dụ chuyến đi của Jan Pawel sang Brazil – nước đông giáo dân nhất trên thế giới – trong năm 1980, nơi hồng y Evaristo Arns ở giáo phận Sao Paolo không thích xuất hiện bên cạnh quân đội Brazil, không chịu lên máy bay trực thăng và giáo hoàng phải chấp nhận quay lại (tr.151). Mà quí vị nên nhớ khi nói tới các nước nói tiếng Bồ Đào Nha thì cần phải nhắc tới dòng Tên – tức là dòng tu Jesuits, là những giáo sĩ cũng từng tới Vn truyền đạo đầu tiên đó. Tới đây cũng cần nhắc thêm cho những ai ít quan tâm tới lịch sử, là có 1 giáo hoàng từng chia đôi thế giới và cho các giáo sĩ Tây Ban Nha đi sang phía Tây, còn Bồ Đào Nha đi sang phía đông, và kết quả là chữ quốc ngữ của ta có nhiều điểm tương đồng với tiếng Bồ hơn các ngôn ngữ La-tinh khác đó. Ngày xưa người ta chia thế giới bằng đường kinh tuyến 0 độ đi ngang qua trạm quan sát thiên văn Greenwich ở London, hi hi, nhưng mà tính toán sai lầm sao đó mà phần bên dưới chia ngang Nam Mỹ, cho nên bây giờ quí vị thấy Brazil nói tiếng Bồ còn tất cả các nước còn lại đều nói tiếng Tây Ban Nha, hê hê.

Chương 5 cũng lý thú, nói về ‘cuộc chiến’ với chuyện phụ nữ được phong làm linh mục ở CH Czech, rồi homosexual… Các chương khác cũng theo hướng trình bày ‘quan điểm’ (chính xác là quá trình đấu tranh – hihi, chắc tác giả lại theo Marxism rồi, luôn suy nghĩ trong mối quan hệ một cặp mâu thuẫn). Sách kiểu này cũng hay vì mình cần vấn đề gì thì chạy tới trang đó coi, không cần phải đọc xuyên từ đầu tới cuối. Nhưng mà tới đây là đủ rồi, tính ra mình đã đọc 1 lần rưỡi quyển sách này, tức 1 lần scan và một lần đọc kỹ một số chỗ, từ chương 2-8, vậy là có thể trả lại cho thư viện được rồi, khi nào cần mới phải tìm lại.

Tags: ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


%d bloggers like this: