Narrative analysis

Bên phương Tây người ta hay nói bạn thành người lớn, hay lớn lên một chút sau khi biết ông già Noel không phải là ông già Noel, ý nói là trưởng thành tức là nhận thức cao hơn một bậc. Nhìn thấy cái narrative trong câu chuyện giúp bạn ‘lớn hơn’, và nếu bạn là người viết báo, sẽ giúp bạn viết báo hay hơn chút xíu.

Anh bạn Dzu Kaka trong bài trước http://blog.360.yahoo.com/blog-c4fwAN4zeqi8D.JXuWThXsk0IbGsY37B?p=103 có comment là các trang blog của mình “… thường sửa lại bất thường”. Hoàn toàn chính xác vì đó là tính chất của hypertext – văn bản trên mạng Internet – luôn ở trong thể động. Nhiều item được mình tạo ra, viết vài chữ để khi có thời gian sẽ quay lại làm, hoặc đọc lại thấy chưa ổn sẽ sửa tiếp. Comment của bạn nhắc mình sẽ phân tích đề tài hypertext trong một bài sau, còn bài này sẽ bàn tiếp phương pháp để nhìn thấy (những) cái narrative(s) nằm ẩn trong cùng một câu chuyện mà mình đã đề cập. Phương pháp phân tích kết cấu câu chuyện cùng với grounded analysis http://blog.360.yahoo.com/blog-c4fwAN4zeqi8D.JXuWThXsk0IbGsY37B?p=70 là 2 phương pháp phổ biến hay được dùng để phân tích văn bản http://blog.360.yahoo.com/blog-c4fwAN4zeqi8D.JXuWThXsk0IbGsY37B?p=55 mà có thể mở rộng ra cho các chất liệu khác như hình, phim và hypertext.

Trước hết cần phải giải thích rằng narration và narrative khá giống nhau nhưng hệ Anh/Mỹ rất phổ biến chữ narrative – hiểu narration theo góc cạnh ngành học gọi là Media Studies (không đơn thuần là nghiên cứu truyền thông nói chung), bắt nguồn từ Cultural Studies (cũng không đơn thuần là nghiên cứu văn hóa nói chung) của Stuart Hall khởi xướng cuối thập niên 1970 ở Birmingham. Ngành này theo hệ phái Mác-xít, tất nhiên là khác xa cái chủ nghĩa Mác đang dùng ở Vn, không được update từ sau 1945, vẫn còn dừng ở đệ Tam và uýnh nhau với đệ Tứ. Thế giới chắc đã đi đến đệ Bát đệ Cửu hay Nhị Thập Cửu gì đó mất tiêu từ lâu rồi. Marxism được dùng khá nhiều trong ngành xã hội học, sử học và khoa học nhân văn trên thế giới nhưng đó lại là một khái niệm khá rộng, cần viết một bài riêng về nó nữa, ở đây chỉ nói đơn giản quan điểm Marxism trong nghiên cứu xã hội tức là coi các sự vật luôn là một cặp mâu thuẫn cùng tồn tại và đấu tranh với nhau để phát triển theo lịch sử (lại gặp chiều thời gian rồi), và phương pháp tư duy là biện chứng (duy vật – cái vụ này phải đọc triết Hegel và Kant mà Mác mượn để chế biến lại).

Theo định nghĩa đơn giản nhất của bậc phổ thông trung học Anh GCSE http://www.mediaknowall.com/gcse/keyconceptsgcse/gcsenarrative.html thì cái narration cơ bản nhất cũng là cái story hay từ chuyên môn của dân viết kịch bản điện ảnh còn gọi là plot. Bạn muốn hiểu thêm về kịch bản điện ảnh thì xin mời tìm các blog của đạo diễn như của anh Chuyên đây http://360.yahoo.com/btchuyen hoặc trong này http://www.nhalamphim.com/ hoặc đây http://www2.uclaextension.edu/writers/. Story/plot là chuỗi các sự kiện được đưa ra, tức là narration ở bậc cơ bản, giản đơn. Lên một mức nữa người ta gọi bằng từ chuyên môn là narrative tức là cái cách mà những sự kiện đó được kết nối với nhau và trình bày tới người đọc, người xem và người nghe. Nếu ở trình độ đơn sơ bạn phân tích cái câu chuyện và đắm chìm trong nó thì ở trình độ cao hơn một chút bạn phân tích cái kết cấu, cấu trúc của câu chuyện đó, so sánh nó với cách kể của người khác. Một trong những cái kết cấu sơ đẳng nhất là theme, ví dụ như chia phim ra thành phim tình yêu, chiến tranh…

Nếu trong văn chương bạn chỉ quan tâm đến cách xây dựng và phát triển nhân vật thì trong điện ảnh bạn có vô số thứ để xét tới, như góc quay của máy, ánh sáng, tiếng động âm thanh. Nhưng cái cốt lõi nhất vẫn là cái sườn câu chuyện, mà theo nguyên tắc kịch của Platon thời Hi Lạp – La Mã cổ đại người ta có 3 phần cơ bản – mở đầu – thân bài – kết luận, mà đầu tiên là cân bằng (equilibrium) rồi mất cân bằng, và cân bằng trở lại. Giống như coi phim bộ vậy, bạn yên tâm làm quen với nhân vật, hồi hộp coi câu chuyện thắt nút rồi gỡ ra vào phút cuối. Cái vụ này thì chắc không ai giỏi hơn em Khuê rồi http://360.yahoo.com/vitconvn.

Nhận được cái comment của Phương Thảo dưới đây, chứng tỏ mình ‘nghi ngờ’ đúng về sự phổ biến của cái chữ narration – dùng trong triết và xã hội và nhân văn học, và anh em ruột thịt hay chính xác là sanh đôi của nó – narrative – hay được dùng trong film making (hay script writting thì đúng hơn nhỉ). Thế nhưng ứng dụng của narrative analysis không chỉ gói gọn trong đó, mà người ta còn có thể phân tích các câu chuyện của dân chúng để mà hoạch định chính sách quản lý nhà nước nữa, ít nhất là có người viết về đề tài này trong tạp chí Public Adminitration Review số 51.1 (1991) và 57.5 (1997). Narrative analysis là phương pháp phân tích dữ liệu văn bản cho nên dùng trong bất kỳ ngành học nào có dùng tới nó thôi, từ văn nghệ cho tới kinh tế, và tất nhiên trọng tâm chính là xã hội học. Như trong bài trước narration được các triết gia như Heiddeger và Husserl định nghĩa qua sự hiểu biết về bản thân và vận hành cùng thời gian, bạn nhìn thấy cái narrative trong phim, ảnh, kịch, thơ, văn tức là bạn đã hiểu mình thêm một chút, tức là lớn thêm một ít rồi, đúng không. Lúc đầu mình định viết bài này để trình bày phương pháp narrative analysis nhưng giờ nghĩ lại nếu ai chuyên sâu ngành xã hội thì nhiêu đây là đủ để gợi mở để họ đi tìm tiếp, còn với dân báo chí, nhà sáng tác hay người thường thì nhiêu đây là đủ dài rồi, có phải không nhỉ. Nhớ là từ nay khi bạn viết báo nên chú trọng tới cái narrative của bài viết của bạn hơn nhé, đừng tra tấn người đọc như tớ về những cái mỹ từ hay cổ động từ mà cốt truyện hỏng có gì hết, thân bài một đằng, kết luận cái rụp một nẻo. Đọc/nghe/xem/ thưởng thức một tác phẩm cũng là một chuyến du hành với cái ‘hiểu’ vận hành theo ‘thời gian’ cho nên bạn hãy làm sao để sau khi đọc bài viết của bạn tớ cũng ‘lớn lê
n được một chút’ nhé. Xin cảm ơn.

Lại phải viết thêm tý, cho dân tin học. Narrative là mấy cái mà trong lập trình gọi là structure đấy. Ngày xưa kiểu Pascal, C là narrative tuần tự – sequence, nhưng sau có object programing thì cho phép sử dụng nhiều loại narrative khác nhau, có cả kiểu đệ qui – gọi chính mình, thỉnh thoảng cũng thấy trên phim. Lập trình dùng trình biên dịch là ‘viết kịch bản’, còn dò chương trình trong assembler giống như ‘tìm narrative’ của phim/kịch bản vậy.

Tags: ,

One Response to “Narrative analysis”

  1. Phuongthao Says:

    Great topic…….hom truoc em bi mot nguoi che la ko hieu narrative cua storyboard nen em cung phai google “Narrative” va doc het mot buoi troi. Anh thiet la mot ca’i ma’y viet……viet lien tu` ti` va` bai nao cung da`i qua’ xa’.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Narrative analysis

Bên phương Tây người ta hay nói bạn thành người lớn, hay lớn lên một chút sau khi biết ông già Noel không phải là ông già Noel, ý nói là trưởng thành tức là nhận thức cao hơn một bậc. Nhìn thấy cái narrative trong câu chuyện giúp bạn ‘lớn hơn’, và nếu bạn là người viết báo, sẽ giúp bạn viết báo hay hơn chút xíu.

Anh bạn Dzu Kaka trong bài trước http://blog.360.yahoo.com/blog-c4fwAN4zeqi8D.JXuWThXsk0IbGsY37B?p=103 có comment là các trang blog của mình “… thường sửa lại bất thường”. Hoàn toàn chính xác vì đó là tính chất của hypertext – văn bản trên mạng Internet – luôn ở trong thể động. Nhiều item được mình tạo ra, viết vài chữ để khi có thời gian sẽ quay lại làm, hoặc đọc lại thấy chưa ổn sẽ sửa tiếp. Comment của bạn nhắc mình sẽ phân tích đề tài hypertext trong một bài sau, còn bài này sẽ bàn tiếp phương pháp để nhìn thấy (những) cái narrative(s) nằm ẩn trong cùng một câu chuyện mà mình đã đề cập. Phương pháp phân tích kết cấu câu chuyện cùng với grounded analysis http://blog.360.yahoo.com/blog-c4fwAN4zeqi8D.JXuWThXsk0IbGsY37B?p=70 là 2 phương pháp phổ biến hay được dùng để phân tích văn bản http://blog.360.yahoo.com/blog-c4fwAN4zeqi8D.JXuWThXsk0IbGsY37B?p=55 mà có thể mở rộng ra cho các chất liệu khác như hình, phim và hypertext.

Trước hết cần phải giải thích rằng narration và narrative khá giống nhau nhưng hệ Anh/Mỹ rất phổ biến chữ narrative – hiểu narration theo góc cạnh ngành học gọi là Media Studies (không đơn thuần là nghiên cứu truyền thông nói chung), bắt nguồn từ Cultural Studies (cũng không đơn thuần là nghiên cứu văn hóa nói chung) của Stuart Hall khởi xướng cuối thập niên 1970 ở Birmingham. Ngành này theo hệ phái Mác-xít, tất nhiên là khác xa cái chủ nghĩa Mác đang dùng ở Vn, không được update từ sau 1945, vẫn còn dừng ở đệ Tam và uýnh nhau với đệ Tứ. Thế giới chắc đã đi đến đệ Bát đệ Cửu hay Nhị Thập Cửu gì đó mất tiêu từ lâu rồi. Marxism được dùng khá nhiều trong ngành xã hội học, sử học và khoa học nhân văn trên thế giới nhưng đó lại là một khái niệm khá rộng, cần viết một bài riêng về nó nữa, ở đây chỉ nói đơn giản quan điểm Marxism trong nghiên cứu xã hội tức là coi các sự vật luôn là một cặp mâu thuẫn cùng tồn tại và đấu tranh với nhau để phát triển theo lịch sử (lại gặp chiều thời gian rồi), và phương pháp tư duy là biện chứng (duy vật – cái vụ này phải đọc triết Hegel và Kant mà Mác mượn để chế biến lại).

Theo định nghĩa đơn giản nhất của bậc phổ thông trung học Anh GCSE http://www.mediaknowall.com/gcse/keyconceptsgcse/gcsenarrative.html thì cái narration cơ bản nhất cũng là cái story hay từ chuyên môn của dân viết kịch bản điện ảnh còn gọi là plot. Bạn muốn hiểu thêm về kịch bản điện ảnh thì xin mời tìm các blog của đạo diễn như của anh Chuyên đây http://360.yahoo.com/btchuyen hoặc trong này http://www.nhalamphim.com/ hoặc đây http://www2.uclaextension.edu/writers/. Story/plot là chuỗi các sự kiện được đưa ra, tức là narration ở bậc cơ bản, giản đơn. Lên một mức nữa người ta gọi bằng từ chuyên môn là narrative tức là cái cách mà những sự kiện đó được kết nối với nhau và trình bày tới người đọc, người xem và người nghe. Nếu ở trình độ đơn sơ bạn phân tích cái câu chuyện và đắm chìm trong nó thì ở trình độ cao hơn một chút bạn phân tích cái kết cấu, cấu trúc của câu chuyện đó, so sánh nó với cách kể của người khác. Một trong những cái kết cấu sơ đẳng nhất là theme, ví dụ như chia phim ra thành phim tình yêu, chiến tranh…

Nếu trong văn chương bạn chỉ quan tâm đến cách xây dựng và phát triển nhân vật thì trong điện ảnh bạn có vô số thứ để xét tới, như góc quay của máy, ánh sáng, tiếng động âm thanh. Nhưng cái cốt lõi nhất vẫn là cái sườn câu chuyện, mà theo nguyên tắc kịch của Platon thời Hi Lạp – La Mã cổ đại người ta có 3 phần cơ bản – mở đầu – thân bài – kết luận, mà đầu tiên là cân bằng (equilibrium) rồi mất cân bằng, và cân bằng trở lại. Giống như coi phim bộ vậy, bạn yên tâm làm quen với nhân vật, hồi hộp coi câu chuyện thắt nút rồi gỡ ra vào phút cuối. Cái vụ này thì chắc không ai giỏi hơn em Khuê rồi http://360.yahoo.com/vitconvn.

Nhận được cái comment của Phương Thảo dưới đây, chứng tỏ mình ‘nghi ngờ’ đúng về sự phổ biến của cái chữ narration – dùng trong triết và xã hội và nhân văn học, và anh em ruột thịt hay chính xác là sanh đôi của nó – narrative – hay được dùng trong film making (hay script writting thì đúng hơn nhỉ). Thế nhưng ứng dụng của narrative analysis không chỉ gói gọn trong đó, mà người ta còn có thể phân tích các câu chuyện của dân chúng để mà hoạch định chính sách quản lý nhà nước nữa, ít nhất là có người viết về đề tài này trong tạp chí Public Adminitration Review số 51.1 (1991) và 57.5 (1997). Narrative analysis là phương pháp phân tích dữ liệu văn bản cho nên dùng trong bất kỳ ngành học nào có dùng tới nó thôi, từ văn nghệ cho tới kinh tế, và tất nhiên trọng tâm chính là xã hội học. Như trong bài trước narration được các triết gia như Heiddeger và Husserl định nghĩa qua sự hiểu biết về bản thân và vận hành cùng thời gian, bạn nhìn thấy cái narrative trong phim, ảnh, kịch, thơ, văn tức là bạn đã hiểu mình thêm một chút, tức là lớn thêm một ít rồi, đúng không. Lúc đầu mình định viết bài này để trình bày phương pháp narrative analysis nhưng giờ nghĩ lại nếu ai chuyên sâu ngành xã hội thì nhiêu đây là đủ để gợi mở để họ đi tìm tiếp, còn với dân báo chí, nhà sáng tác hay người thường thì nhiêu đây là đủ dài rồi, có phải không nhỉ. Nhớ là từ nay khi bạn viết báo nên chú trọng tới cái narrative của bài viết của bạn hơn nhé, đừng tra tấn người đọc như tớ về những cái mỹ từ hay cổ động từ mà cốt truyện hỏng có gì hết, thân bài một đằng, kết luận cái rụp một nẻo. Đọc/nghe/xem/ thưởng thức một tác phẩm cũng là một chuyến du hành với cái ‘hiểu’ vận hành theo ‘thời gian’ cho nên bạn hãy làm sao để sau khi đọc bài viết của bạn tớ cũng ‘lớn lê
n được một chút’ nhé. Xin cảm ơn.

Lại phải viết thêm tý, cho dân tin học. Narrative là mấy cái mà trong lập trình gọi là structure đấy. Ngày xưa kiểu Pascal, C là narrative tuần tự – sequence, nhưng sau có object programing thì cho phép sử dụng nhiều loại narrative khác nhau, có cả kiểu đệ qui – gọi chính mình, thỉnh thoảng cũng thấy trên phim. Lập trình dùng trình biên dịch là ‘viết kịch bản’, còn dò chương trình trong assembler giống như ‘tìm narrative’ của phim/kịch bản vậy.

Tags: ,

One Response to “Narrative analysis”

  1. Phuongthao Says:

    Great topic…….hom truoc em bi mot nguoi che la ko hieu narrative cua storyboard nen em cung phai google “Narrative” va doc het mot buoi troi. Anh thiet la mot ca’i ma’y viet……viet lien tu` ti` va` bai nao cung da`i qua’ xa’.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


%d bloggers like this: