Narration

(ad 1.Oct, có lẽ nên dùng chữ narrative, phổ biến hơn, và là một trong số các đề mục thi phổ thông bậc GCSE ở Anh http://www.mediaknowall.com/gcse/keyconceptsgcse/gcsenarrative.html)

Là trào lưu khá phổ thông trong phân tích văn chương hiện đại, trong đúng cái thời gian mà ở Vn mình đi học văn vẫn phải theo cái lối bình giảng từ đầu TK20, thiệt là thiệt thòi cho con nít Vn. Thôi thì mình chịu khó viết ra đây vậy, cho cả bản thân luôn.

Trước hết cái chữ narracja không có trong từ điển nhỏ Ba-Việt năm 1968 của Nguyễn Tự Thắng, Nguyễn Trần Ba, Lê Nguyên Đăng, mà từ điển nhỏ Ba Lan-Anh (70.000 từ) của Elzbieta Mizera năm 2000 dịch từ tiếng Anh là narration, mà từ điển mạng Anh- Việt (60.000 từ?) http://vdict.com/narration,1,0,0.html chỉ nói đơn giản là “sự kể chuyện, tường thuật, hoặc chuyện kể và bài tường thuật đó” mà lẽ ra cần thêm một cái nữa là “cốt truyện” như chữ narration dùng trong kịch bản phim. Thêm một ví dụ để thấy cách giải thích chiết tự không giúp gì được nếu không nói sẽ khiến người ta hiểu sai khái niệm, vì một từ trong quá khứ sẽ khiến người ta hiểu sai về khái niệm hiện tại. Cho nên cần phải dùng đến cách giải thích chuyển nghĩa trước khi chuyển dịch từ ngữ.

Triết gia Martin Heidegger từng nhắc tới cái ‘bản chất’ hay còn gọi là ontology của Dasein (Sein und Zeit), định nghĩa qua hai khái niệm (phạm trù?) là sự hiểu biết và sự vận hành của thời gian. Nói đơn giản, với Heidegger, tồn tại là hiểu biết theo chiều thời gian. Với ông sự hiểu biết không được coi là tư duy hay epistemology trong tam giác paradigm thông thường, mà coi chính suy nghĩ của con người là ontology – bản chất. Suy nghĩ chính là cái thiết kế, cái hiến chương, cái Tôi của mỗi con người – kiểu như là “Tôi suy nghĩ tức là tôi tồn tại”. Hình như Pascal có nói câu này nhưng theo cách hơi khác chút, vì ở đây Heidegger muốn nói tới cái suy nghĩ hay hiểu biết về Tôi – self-understanding. Hơn vậy, cái sự ‘hiểu’ đó thường phụ thuộc (hay chính xác hơn là vận hành) theo thời gian – thường chia thành 3 đoạn: quá khứ, hiện tại và tương lai. Những gì bạn đang trải nghiệm sẽ ảnh hưởng tới cách hiểu biết (nhận thức) của bạn về quá khứ, và những gì bạn hiểu trong quá khứ và hiện tại sẽ ảnh hưởng tới dự án của bạn về tương lai. ‘Hiểu’ ở đây là ‘quá trình’, nhưng không phải là ‘theo thời gian’, vì thời gian ở đây không phải là trục tuyến tính, mà có thể là một hệ tọa độ bất thường.

Yếu tố thời gian – theo Husserl, thêm một triết gia cũng đề cập tới vấn đề này (từng nhắc qua trong topic về phenomenology http://blog.360.yahoo.com/blog-c4fwAN4zeqi8D.JXuWThXsk0IbGsY37B?p=23) – không chỉ là trục mà là cả một phần gắn liền với sự ‘hiểu’. Trải nghiệm của bạn trong hiện tại không bao giờ tồn tại đơn lẻ, mà nó kéo dài vào quá khứ và cả tương lai đang mong chờ nữa. Vấn đề khá lý thú là cái trục thời gian không nằm trong động từ tiếng Việt xưa, mà sau này mới miễn cưỡng gán ghép vào cái chữ ‘đã’ và ‘sẽ’. Ví dụ người Việt nói ‘để mai tôi làm’ hơn là ‘mai tôi sẽ làm’, hay kể lại ‘hồi hôm thằng cướp giết người ghê quá’ chứ không có thêm cái chữ ‘đã’ vào chữ giết người. Đây cũng là vấn đề cần chú ý khi áp dụng / diễn dịch khái niệm narration vào văn chương tiếng Việt.

ad 1.10. Bạn Hạo Nhiên đã bình luận rồi. Mình mà hiểu cũng ‘chết liền’ luôn. Tại cho tới giờ mình vẫn chưa biết dịch cái chữ narration ra tiếng Việt như thế nào. Mà đây mới chỉ nói tới cái narration trong văn bản, có thể mở rộng lên thành kịch bản phim, chứ chưa nói tới cái narration trong pop song mà người ta hay gọi là story, rồi narration trong hội họa nữa. Hỏng lẽ trên tranh cũng có ‘cốt truyện’ ?

Viết tiếp chút nữa đây, narration là một cách nhìn khác vào văn bản. Trước kia bình luận văn học (mà vn vẫn tiếp tục chỉ có duy nhất cách bình giảng đó) chỉ thiên về các câu chữ, cách dùng từ theo hệ quả của ngành semiotics (semantics). Vn còn nhìn thêm một kiểu nữa là nhìn vào lý lịch của nhà văn, dò câu chữ xem ‘ý đồ’ của hắn ta như thế nào. Nhưng nay người ta thấy còn có thể ‘nhìn’ văn bản qua cái narration của nó. Cùng một câu chuyện nhưng có thể có nhiều narration khác nhau, tùy thuộc vào chuyện tác giả xây dựng nó như thế nào. Nếu đơn giản chỉ có 1 narration và cái đó chính là ‘cốt truyện’. Nhưng cũng có những truyện cùng lúc xoay quanh 2-3 tuyến nhân vật khác nhau hay cả trăm (Thủy Hử) thì có ít nhất vài narrations khác nhau, chưa kể các narration ẩn hiện nữa. Ví dụ một ngôi sao âm nhạc kể chuyện mình/tâm sự với phóng viên hay độc giả (vd Lê Vân). Câu chuyện có thể lấy ‘cốt truyện’ là cuộc đời nghệ thuật, nhưng nhiều lúc tác giả lại dùng nó để chuyển tải một lời thanh minh về chuyện mình bỏ chồng hoặc ngoại tình chẳng hạn, thì cái narration đó khó có thể dịch là cốt truyện được.

Thú vị nhất là cái narration dùng trong truyền thuyết hay truyện ngụ ngôn, thường rất nhiều tầng lớp, và từ mỗi vị trí khác nhau sẽ thấy theo cách khác nhau. Ví dụ như chuyện về ông lão chèo thuyền và vị giáo sư nhé. Quí vị còn nhớ không. GS hỏi ông có biết thưởng thức âm nhạc không – không cho nên mất nửa cuộc đời. Tiếp tục không biết thưởng thức văn thơ nên cũng mất nửa cuộc đời. Và không biết thưởng thức hội họa cho nên cũng mất nửa cuộc đời nữa. ông lão hỏi lại thằng GS thế mày có biết bơi không – không biết nên sẽ mất cả cuộc đời. Nếu bạn đứng về phía lão nông dân sẽ thấy ông ta đúng, cần biết bơi hơn cần các thứ kia nếu phải lựa chọn. Nếu bạn đứng về phía lão GS sẽ thấy, nếu biết hưởng thụ văn thơ, nhạc họa sẽ sống được tới một cuộc đời rưỡi lận, thương hại cho lão chèo đò suốt đời chỉ biết sống có một cuộc đời. Nếu nhìn trên một tầm cao hơn nữa sẽ thấy một cái narration khác là sự khác nhau về nhu cầu và quan điểm, hệ giá trị trong cuộc sống…

Nói một cách khác, narration không chỉ đơn giản là cái ‘cốt truyện’ của văn bản text, mà nó là cái cấu trúc của sự hiểu biết của con người vận hành cùng thời gian. Không phải văn chương
nào cũng mang tầm quốc tế và ai cũng có thể hiểu. Ví dụ những người làm văn nghệ hay phân biệt giữa hai lối kịch hay hài của miền Bắc và miền Nam, nói là kịch miền Bắc ‘thông thái, và trí thức hơn’. Bỏ qua chuyện phân cao thấp, ít nhất các nhận xét đó chứng tỏ có hai ‘văn hóa dân tộc’ khác nhau giữa Nam và Bắc, có điểm chung là hai loại narrations khác nhau.

Bậc thầy về narration có lẽ là Kim Dung, ‘cốt truyện’ là mấy cái vụ đấm đá xảy ra trong một kẽ hở nào đó của lịch sử, các nhân vật của Kim Dung khiến người ta phải suy nghĩ nhiều và vận dụng đủ trong Thiền học, Dịch học, thậm chí Triết học, Xã hội học và Chính trị học nữa. Các motive-narrative trong đó rất universal với văn hóa Khổng giáo, phần nào được improved thêm bằng văn minh phương Tây, giúp người đọc dễ dàng liên tưởng tới một narration nào đó trong cuộc đời mình, trong xã hội mình đang sống. Nói chánh phái tà phái người ta nghĩ tới cuộc chiến tranh lạnh, còn nói tới kiếm pháp nhiều lúc người đọc lại nghĩ tới triết học.

Thôi tạm dừng. Dạo này hổng biết mình viết kiểu gì mà cứ mở blog là mút chỉ cà na (cà tha?) luôn. BTW có bài này bên chỗ bà Hoài chảnh chọe đọc cũng được, nhất là đoạn anh Đăng nói về vị trí của ‘nhà phê bình’ http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11076&rb=0202

ad. 17h15. Suy nghĩ mãi từ sáng tới giờ mới tìm được một chữ hơi khả dĩ chút cho cái narration, là kết cấu. Giống với construction, hay structure vì phần nào nó cũng là một cách xây dựng. Có thể gọi là ‘kết cấu’ (văn học?), nhưng trong hội họa hiện đại – instalation/performance cũng có thể gọi là kết cấu được. Nhắc tới hội họa mới nhớ, anh Đăng nói VN không có đủ ‘nhà phê bình’, mà cũng ít họa sĩ nữa. Văn thơ thì Vn thì ra ngõ gặp nhà thơ nhưng bói các kiểu cũng không đâu ra nhà phê bình cả. Mà theo mình, nền văn hiến được đánh giá bằng con số nhà văn/thơ với số nhà phê bình tương ứng. Cho nên nếu không có nhà phê bình nào cả thì tổng hợp lại nền văn hiến Vn cũng chỉ là con số zero. Mà văn học nghệ thuật hiện đại chính là mấy cái vụ narration này đây.

BTW trong tiếng Anh narration nhiều lúc cũng được dùng như là narrative, hình như là được chuộng hơn http://en.wikipedia.org/wiki/Narrative. Narrative và media (truyền thông) là hai thứ cũng gắn liền với nhau, cho nên nếu bạn muốn viết báo/làm chương trình radio-tv hay thì cần nghiên cứu thêm về narrative.

Tags: ,

3 Responses to “Narration”

  1. HaoNhien Vu Says:

    Hiểu chết liền

  2. Dzu Kaka Says:

    Một blog của anh Hải phải đọc nhiều lần vì … thường sửa lại bất ngờ.

  3. Princess Says:

    ghet nhat la gio “tap lam van” ngay xua, anh nhi?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Narration

(ad 1.Oct, có lẽ nên dùng chữ narrative, phổ biến hơn, và là một trong số các đề mục thi phổ thông bậc GCSE ở Anh http://www.mediaknowall.com/gcse/keyconceptsgcse/gcsenarrative.html)

Là trào lưu khá phổ thông trong phân tích văn chương hiện đại, trong đúng cái thời gian mà ở Vn mình đi học văn vẫn phải theo cái lối bình giảng từ đầu TK20, thiệt là thiệt thòi cho con nít Vn. Thôi thì mình chịu khó viết ra đây vậy, cho cả bản thân luôn.

Trước hết cái chữ narracja không có trong từ điển nhỏ Ba-Việt năm 1968 của Nguyễn Tự Thắng, Nguyễn Trần Ba, Lê Nguyên Đăng, mà từ điển nhỏ Ba Lan-Anh (70.000 từ) của Elzbieta Mizera năm 2000 dịch từ tiếng Anh là narration, mà từ điển mạng Anh- Việt (60.000 từ?) http://vdict.com/narration,1,0,0.html chỉ nói đơn giản là “sự kể chuyện, tường thuật, hoặc chuyện kể và bài tường thuật đó” mà lẽ ra cần thêm một cái nữa là “cốt truyện” như chữ narration dùng trong kịch bản phim. Thêm một ví dụ để thấy cách giải thích chiết tự không giúp gì được nếu không nói sẽ khiến người ta hiểu sai khái niệm, vì một từ trong quá khứ sẽ khiến người ta hiểu sai về khái niệm hiện tại. Cho nên cần phải dùng đến cách giải thích chuyển nghĩa trước khi chuyển dịch từ ngữ.

Triết gia Martin Heidegger từng nhắc tới cái ‘bản chất’ hay còn gọi là ontology của Dasein (Sein und Zeit), định nghĩa qua hai khái niệm (phạm trù?) là sự hiểu biết và sự vận hành của thời gian. Nói đơn giản, với Heidegger, tồn tại là hiểu biết theo chiều thời gian. Với ông sự hiểu biết không được coi là tư duy hay epistemology trong tam giác paradigm thông thường, mà coi chính suy nghĩ của con người là ontology – bản chất. Suy nghĩ chính là cái thiết kế, cái hiến chương, cái Tôi của mỗi con người – kiểu như là “Tôi suy nghĩ tức là tôi tồn tại”. Hình như Pascal có nói câu này nhưng theo cách hơi khác chút, vì ở đây Heidegger muốn nói tới cái suy nghĩ hay hiểu biết về Tôi – self-understanding. Hơn vậy, cái sự ‘hiểu’ đó thường phụ thuộc (hay chính xác hơn là vận hành) theo thời gian – thường chia thành 3 đoạn: quá khứ, hiện tại và tương lai. Những gì bạn đang trải nghiệm sẽ ảnh hưởng tới cách hiểu biết (nhận thức) của bạn về quá khứ, và những gì bạn hiểu trong quá khứ và hiện tại sẽ ảnh hưởng tới dự án của bạn về tương lai. ‘Hiểu’ ở đây là ‘quá trình’, nhưng không phải là ‘theo thời gian’, vì thời gian ở đây không phải là trục tuyến tính, mà có thể là một hệ tọa độ bất thường.

Yếu tố thời gian – theo Husserl, thêm một triết gia cũng đề cập tới vấn đề này (từng nhắc qua trong topic về phenomenology http://blog.360.yahoo.com/blog-c4fwAN4zeqi8D.JXuWThXsk0IbGsY37B?p=23) – không chỉ là trục mà là cả một phần gắn liền với sự ‘hiểu’. Trải nghiệm của bạn trong hiện tại không bao giờ tồn tại đơn lẻ, mà nó kéo dài vào quá khứ và cả tương lai đang mong chờ nữa. Vấn đề khá lý thú là cái trục thời gian không nằm trong động từ tiếng Việt xưa, mà sau này mới miễn cưỡng gán ghép vào cái chữ ‘đã’ và ‘sẽ’. Ví dụ người Việt nói ‘để mai tôi làm’ hơn là ‘mai tôi sẽ làm’, hay kể lại ‘hồi hôm thằng cướp giết người ghê quá’ chứ không có thêm cái chữ ‘đã’ vào chữ giết người. Đây cũng là vấn đề cần chú ý khi áp dụng / diễn dịch khái niệm narration vào văn chương tiếng Việt.

ad 1.10. Bạn Hạo Nhiên đã bình luận rồi. Mình mà hiểu cũng ‘chết liền’ luôn. Tại cho tới giờ mình vẫn chưa biết dịch cái chữ narration ra tiếng Việt như thế nào. Mà đây mới chỉ nói tới cái narration trong văn bản, có thể mở rộng lên thành kịch bản phim, chứ chưa nói tới cái narration trong pop song mà người ta hay gọi là story, rồi narration trong hội họa nữa. Hỏng lẽ trên tranh cũng có ‘cốt truyện’ ?

Viết tiếp chút nữa đây, narration là một cách nhìn khác vào văn bản. Trước kia bình luận văn học (mà vn vẫn tiếp tục chỉ có duy nhất cách bình giảng đó) chỉ thiên về các câu chữ, cách dùng từ theo hệ quả của ngành semiotics (semantics). Vn còn nhìn thêm một kiểu nữa là nhìn vào lý lịch của nhà văn, dò câu chữ xem ‘ý đồ’ của hắn ta như thế nào. Nhưng nay người ta thấy còn có thể ‘nhìn’ văn bản qua cái narration của nó. Cùng một câu chuyện nhưng có thể có nhiều narration khác nhau, tùy thuộc vào chuyện tác giả xây dựng nó như thế nào. Nếu đơn giản chỉ có 1 narration và cái đó chính là ‘cốt truyện’. Nhưng cũng có những truyện cùng lúc xoay quanh 2-3 tuyến nhân vật khác nhau hay cả trăm (Thủy Hử) thì có ít nhất vài narrations khác nhau, chưa kể các narration ẩn hiện nữa. Ví dụ một ngôi sao âm nhạc kể chuyện mình/tâm sự với phóng viên hay độc giả (vd Lê Vân). Câu chuyện có thể lấy ‘cốt truyện’ là cuộc đời nghệ thuật, nhưng nhiều lúc tác giả lại dùng nó để chuyển tải một lời thanh minh về chuyện mình bỏ chồng hoặc ngoại tình chẳng hạn, thì cái narration đó khó có thể dịch là cốt truyện được.

Thú vị nhất là cái narration dùng trong truyền thuyết hay truyện ngụ ngôn, thường rất nhiều tầng lớp, và từ mỗi vị trí khác nhau sẽ thấy theo cách khác nhau. Ví dụ như chuyện về ông lão chèo thuyền và vị giáo sư nhé. Quí vị còn nhớ không. GS hỏi ông có biết thưởng thức âm nhạc không – không cho nên mất nửa cuộc đời. Tiếp tục không biết thưởng thức văn thơ nên cũng mất nửa cuộc đời. Và không biết thưởng thức hội họa cho nên cũng mất nửa cuộc đời nữa. ông lão hỏi lại thằng GS thế mày có biết bơi không – không biết nên sẽ mất cả cuộc đời. Nếu bạn đứng về phía lão nông dân sẽ thấy ông ta đúng, cần biết bơi hơn cần các thứ kia nếu phải lựa chọn. Nếu bạn đứng về phía lão GS sẽ thấy, nếu biết hưởng thụ văn thơ, nhạc họa sẽ sống được tới một cuộc đời rưỡi lận, thương hại cho lão chèo đò suốt đời chỉ biết sống có một cuộc đời. Nếu nhìn trên một tầm cao hơn nữa sẽ thấy một cái narration khác là sự khác nhau về nhu cầu và quan điểm, hệ giá trị trong cuộc sống…

Nói một cách khác, narration không chỉ đơn giản là cái ‘cốt truyện’ của văn bản text, mà nó là cái cấu trúc của sự hiểu biết của con người vận hành cùng thời gian. Không phải văn chương
nào cũng mang tầm quốc tế và ai cũng có thể hiểu. Ví dụ những người làm văn nghệ hay phân biệt giữa hai lối kịch hay hài của miền Bắc và miền Nam, nói là kịch miền Bắc ‘thông thái, và trí thức hơn’. Bỏ qua chuyện phân cao thấp, ít nhất các nhận xét đó chứng tỏ có hai ‘văn hóa dân tộc’ khác nhau giữa Nam và Bắc, có điểm chung là hai loại narrations khác nhau.

Bậc thầy về narration có lẽ là Kim Dung, ‘cốt truyện’ là mấy cái vụ đấm đá xảy ra trong một kẽ hở nào đó của lịch sử, các nhân vật của Kim Dung khiến người ta phải suy nghĩ nhiều và vận dụng đủ trong Thiền học, Dịch học, thậm chí Triết học, Xã hội học và Chính trị học nữa. Các motive-narrative trong đó rất universal với văn hóa Khổng giáo, phần nào được improved thêm bằng văn minh phương Tây, giúp người đọc dễ dàng liên tưởng tới một narration nào đó trong cuộc đời mình, trong xã hội mình đang sống. Nói chánh phái tà phái người ta nghĩ tới cuộc chiến tranh lạnh, còn nói tới kiếm pháp nhiều lúc người đọc lại nghĩ tới triết học.

Thôi tạm dừng. Dạo này hổng biết mình viết kiểu gì mà cứ mở blog là mút chỉ cà na (cà tha?) luôn. BTW có bài này bên chỗ bà Hoài chảnh chọe đọc cũng được, nhất là đoạn anh Đăng nói về vị trí của ‘nhà phê bình’ http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11076&rb=0202

ad. 17h15. Suy nghĩ mãi từ sáng tới giờ mới tìm được một chữ hơi khả dĩ chút cho cái narration, là kết cấu. Giống với construction, hay structure vì phần nào nó cũng là một cách xây dựng. Có thể gọi là ‘kết cấu’ (văn học?), nhưng trong hội họa hiện đại – instalation/performance cũng có thể gọi là kết cấu được. Nhắc tới hội họa mới nhớ, anh Đăng nói VN không có đủ ‘nhà phê bình’, mà cũng ít họa sĩ nữa. Văn thơ thì Vn thì ra ngõ gặp nhà thơ nhưng bói các kiểu cũng không đâu ra nhà phê bình cả. Mà theo mình, nền văn hiến được đánh giá bằng con số nhà văn/thơ với số nhà phê bình tương ứng. Cho nên nếu không có nhà phê bình nào cả thì tổng hợp lại nền văn hiến Vn cũng chỉ là con số zero. Mà văn học nghệ thuật hiện đại chính là mấy cái vụ narration này đây.

BTW trong tiếng Anh narration nhiều lúc cũng được dùng như là narrative, hình như là được chuộng hơn http://en.wikipedia.org/wiki/Narrative. Narrative và media (truyền thông) là hai thứ cũng gắn liền với nhau, cho nên nếu bạn muốn viết báo/làm chương trình radio-tv hay thì cần nghiên cứu thêm về narrative.

Tags: ,

3 Responses to “Narration”

  1. HaoNhien Vu Says:

    Hiểu chết liền

  2. Dzu Kaka Says:

    Một blog của anh Hải phải đọc nhiều lần vì … thường sửa lại bất ngờ.

  3. Princess Says:

    ghet nhat la gio “tap lam van” ngay xua, anh nhi?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


%d bloggers like this: