Grounded Theory

Nhà báo cũng có thể là nhà xã hội học, tức là dùng lăng kính và phương pháp của ngành xã hội để viết phóng sự hay edit bài phỏng vấn. Mình hay áp dụng cách này và sản phẩm được chấp nhận khá rộng rãi, cũng không bị vướng mắc chính trị, hay giữ được thế cân bằng giữa quảng cáo, PR và nhu cầu của người tiêu dùng. Rảnh rỗi thì trình bày chơi tiếp tục theo đây http://blog.360.yahoo.com/blog-c4fwAN4zeqi8D.JXuWThXsk0IbGsY37B?p=55

Các phương pháp phân tích văn bản thường gắn liền với quá trình thu thập các tài liệu đó, cũng giống như người phóng viên đi thực tế mang theo quyển sổ tay hoặc máy ghi âm, chụp hình (phân tích hình ảnh cũng có thể làm giống như với văn bản, nhưng bữa nào tớ rảnh sẽ viết riêng thêm về cái vụ này). Trước hết, có hai trường phái hoàn toàn ngược chiều nhau trong phương pháp phân tích, một cái thì chia nhỏ văn bản ra thành từng đoạn, thậm chí từng câu chữ, mỗi câu được dán nhãn bằng một cái khóa (code) hay có sách còn gọi là thư mục (index) – cái này gọi là grounded theory, một cái thì tóm chung cả văn bản đó thông qua lời tóm lược – phân tích dựa trên narrative (tạm dịch là cốt truyện nhưng không hoàn toàn chính xác, cũng có cả một ngành học hay nhiều, nhất là sân khấu nghệ thuật, đứng sau cái chữ này). Nguyên tắc chung này được trình bày trong chương 19 (Qualitative data analysis p.399-415) của Alan Bryman 2004, Social Research Methods, Oxford University Press.

À, còn phương pháp thứ ba nữa gọi là Analytic induction (tiếng Việt là gì nhỉ, hình như không có khái niệm tương đương cho induction, hiện tượng cùng tên xảy ra với cuộn dây điện tạo ra điện từ trường), nhưng nay ít người dùng vì không rõ ràng. Đại khái là trên cơ sở các cases sẵn có bạn sẽ lập ra một cái giả thiết rồi đem thử cái giả thiết đó với một case mới, xem cái case đó phù hợp hay ngoại lệ. Nếu ngoại lệ phải xem lại cái giả thiết trước đó, cần thiết thì phải thay đổi. Và rồi lại đối chiếu thêm một case mới xem phù hợp hay ngoại lệ. Bác nào học toán chắc còn nhớ phương pháp qui nạp nhỉ – nhưng induction hơi khác qui nạp chút (thế còn đệ qui là gì nhỉ? ad. à, nhớ ra rồi, là phép lập trình gọi lồng chính mình, đúng không nhỉ – tiếng Hán Việt vui phết). Có lẽ cũng theo trào lưu thôi, qui nạp là số học, còn hai phương pháp trình bày trên kia đại số nhiều hơn, toán thế giới chuyển từ số học (algebra) sang đại số (analiza) cho nên xã hội học cũng phải chuyển theo. Bác nào nói xã hội học không liên quan tới ngành tự nhiên là tớ không đồng ý đâu đấy, Chaien ngay lập tức. Nhiều hãng tin theo nguyên tắc chỉ cần 2 lần là xong, ví dụ BBC chỉ cần 2 nguồn tin độc lập (2 cases) nói giống nhau (hypothesis confirmed, no deviant case) là đủ chứng minh ‘sự thật’.

Cũng vì toán học phát triển từ số sang tuyến tính, rồi từ số thực sang số ảo, từ chuỗi sin-cốt sang chuỗi vạch, cho nên Grounded theory có thể nói là đỉnh cao của quá trình này. Đầu tiên bạn phải vi phân văn bản ra thành từng đoạn nhỏ rồi tích phân nó lại để cho ra một con số biểu diễn. Chắc vậy nên phương pháp này rất phổ biến. Thấy người ta nói quyển sách giáo khoa của Barney G Glaser và Anselm L Strauss xuất bản năm 1967, The Discovery of Grounded Theory – Strategies for Qualitative Reseach thuộc nhóm được trích dẫn nhiều nhất trong ngành xã hội học (Bryman 2004 p.401). Chìa khóa của phương pháp này là những cái code như đã trình bày trên kia. Code có thể là cái nhãn do người nghiên cứu đặt ra nhưng cũng có thể phát xuất từ những câu nói của người trả lời phỏng vấn. Ví dụ mình vào blog của Hạo Nhiên http://blog.360.yahoo.com/blog-uaEgArsyerQFoR0Esk4QWs2d?p=1905#comments thấy chữ văn hóa làng nhiều quá thì lấy cái đó làm code luôn, còn vào trang của nhạc sĩ Tô Văn http://360.yahoo.com/profile-OOJtmTcldKkPt5ZeWinmN12p lại thấy xe đạp nhiều quá thì có thể lấy chữ xe đạp làm code – tiếng La lin gọi là in vivo, nhưng cũng có thể lấy chữ khác tương xứng, như kiến thức, hay nền giáo dục chẳng hạn – tức là do người phân tích đặt ra, sociologically constructed code (p.406).

Tại vì lý thuyết được lấy lên từ những cái code đặt nằm (grounded) dưới dữ liệu cho nên phương pháp này có thể được coi là để tìm ra ‘sự thật’ từ thực địa. Nhiều kiểu bài phóng sự cũng theo phương pháp này, như hôm nay mình dịch một cái radio feature về triều đại của Bill Clinton, người ta cũng cắt các clip rồi mark bằng các index trước khi xâu chuỗi lại thành một ‘theory’ về giai đoạn đó. Tất nhiên ‘sự thật’ của nhà báo kém xa ‘sự thật’ của nhà khoa học xã hội, nhưng có thể dùng phép tương tự để suy ra được. Sau khi thu thập được một số dữ liệu ban đầu, nhà nghiên cứu/ nhà báo có thể cắt văn bản (ghi bên ngoài lề sổ tay hoặc transcription) thành những đoạn code khác nhau, thử tìm mối quan hệ giữa các code và hoàn cảnh. Nếu để ý thấy mối quan hệ (phenomenon – hơi khác với cái khái niệm cùng tên dùng trong ngành phenomenology nhé) nào khá lý thú thì có thể tìm tiếp dữ liệu theo hướng đó, gói gọn dần hệ thống code trong lúc số lượng mẫu nhiều lên cho phép siết chặt thêm tính chính xác của giả thiết (theoretical saturation). Một số người khuyên nên so sánh các code để tìm mối quan hệ, và cũng có một số người (Glaser and Strauss) khuyên dùng memo (phương pháp viết sổ tay hay còn gọi là nhật ký phân tích) để xác định các tập hợp (cái này hình như trong toán có từ mà mình quên mất rồi, tiếng Anh là categories) và ánh xạ (hẹ hẹ, tự nhiên nhớ ra được cái này, hình như hồi đó thầy Dũng dạy – LHP) xác định ra hàm, mà bên xã hội học gọi là lý thuyết.

Cái vụ coding về mặt từ ngữ thì giống như của bên phân tích số liệu mà ngành marketing hay social survey hay dùng, nhưng cũng cần nhắc lại là chúng ta đang nói chuyện về phân tích dữ liệu văn bản chứ không phải số liệu, quality analysis vs quantity. Trong quality research thì coding gần như là tâm điểm, là điểm khởi đầu để dựng (generate) thuyết, vì nó không chỉ đơn giản sắp xếp phân phối mà còn đánh dấu, phân chia và kết hợp, tổ chức các thông tin (toán tử) lại với nhau. Về cơ bản có 3 loại coding chính. Trước hết là open coding, đơn giản là chia nhỏ dữ liệu rồi kiểm tra, so sánh, dựng t
huyết và phân loại (categorize – cái chữ này rất quan trọng), sau đó xếp nhóm (group) và rồi loài (category). Ví dụ như thuyết Darwin đó, xếp các con vật vào nhóm rồi 5 loài chính và xây dựng lên thuyết tiến hóa, tức là sự phát triển lần lượt của 5 loài. Chuyện xâu chuỗi giữa các loài còn có tên là axial coding, tức loại coding thứ hai.Sang đến loại thứ 3 là selective coding, tức là chỉ quan tâm đến các loài chính (core) mà thôi, còn các loài khác xét trong mối quan hệ liên kết (integrated). Thực ra 3 loại coding này không phải là riêng biệt mà là 3 tầng cao dần của phương pháp coding mà nhà nghiên cứu phải lần lượt làm theo.

Lại buồn ngủ rồi, thôi để sáng mai ráng dậy sớm vậy.

http://www19.dantri.com.vn/nhipsongtre/2007/10/200212.vip Đây là ví dụ về coding mà Hà Kin dùng cho blog của mình (phần trích blog màu vàng nằm bên dưới.

Tags: ,

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


%d bloggers like this: