Phenomenology

Cái vụ này hình như tiếng Việt dịch là hiện tượng luận, nghe cũng có lý, nhưng thực sự ra phenomenon (tiếng Latin, số nhiều là phenomena) trong ngành xã hội được hiểu rộng hơn kiểu như báo chí hay nói diva này là một phenomenon. Cách nhìn mới này có lẽ do Mead (1934) đề xuất và được Schutz (1973 – năm xuất bản sách, ông này chết từ năm 59) phát triển nâng cao và mở rộng.

Trung tâm của cách nhìn này là khái niệm intersubjectivity, tức là sự liên hệ giữa các góc nhìn chủ quan. Xưa nay dân XH học Việt Nam hay nói đến chuyện khách quan này nọ, nhưng nhóm xã hội học gia này cho rằng cần phải nhìn cuộc sống qua con mắt chủ quan, và hơn vậy, một cách nhìn chủ quan qua cách nhìn chủ quan của người khác. (Ví dụ nhé. 3 nhà báo từ 3 tờ báo khác nhau cùng tường thuật một vấn đề và mỗi báo/nhà báo có một cách nhìn riêng – chủ quan. Và nhà phân tích cũng có cái nhìn chủ quan riêng của mình, lấy 3 cái nhìn chủ quan kia để phân tích vấn đề theo phương pháp khoa học của mình). Cũng có thể hiểu khái niệm intersubjectivity – dịch là gì nhỉ? chủ quan hỗ tương? – qua một hệ thống khái niệm do Schutz xây dựng, bao gồm typification (phân loại?) và recipes (hoàn cảnh?).

Ví dụ như một người hỏi người kia How r u – anh dạo này ra sao? Nếu người hỏi là một người bạn bình thường thì người được hỏi sẽ trả lời chung chung, kiểu như là tôi bình thường. Nhưng nếu người hỏi là bác sĩ thì chắc chắn câu trả lời sẽ khác hơn. Recipes là một thứ social convention – qui ước xã hội, which shape the way we respond in social situations. Người trả lời đã dùng một hệ thống phân loại của riêng mình, tức là typification, để xác định xem ai là người đặt câu hỏi với mình. Nếu gặp người đối diện lần đầu tiên, người ta thường dùng phép so sánh với những người mình đã gặp trước đó để phân loại người này. Cặp phạm trù (?) typification và recipe là cơ chế giúp mỗi cá nhân phản ứng trong các hoàn cảnh xã hội khác nhau, và không cố định mà thay đổi theo số lần gặp các loại hoàn cảnh xã hội giống và khác nhau, còn được coi như là practical intelligence – trí tuệ theo hoàn cảnh (?), hay trí khôn xây dựng qua trải nghiệm thực tế (?).

Các phân tích của Schutz được xây dựng trên hệ thống triết học từ trước đó của Husserl (1931), muốn bỏ qua mọi pre-conception để khám phá life world của mỗi cá thể, là khái niệm để chỉ thế giới nhìn qua cặp mắt intersubjective. Husserl phân ra khá nhiều basic feature (tính cách cơ bản? tính chất?) của “thế giới nhìn riêng” này, ví dụ như tension of consciousness, purposeful physical action, suspension of disbelief, intersubjective communication và specific time perspective. Phân tích của Husserl dựa trên hai vấn đề cơ bản của xã hội là knowledge và structure of social reality (cái vụ này khó dịch rồi à nhe, vì social reality là một thứ liên quan tới ontology – nằm trong bộ ba của paradigms với methodology và epistemology). Knowledge giúp xã hội có nghĩa và cấu trúc hiệu quả (câu này tối nghĩa quá, sẽ phải sửa lại). Kiến thức gồm hai loại, – loại chung là những gì cả xã hội cùng chia sẻ, ví dụ như lòng tin vào một sự thật nào đó – loại riêng là những gì mỗi cá nhân có được từ kinh nghiệm của mình. Vấn đề là loại riêng cũng bị ảnh hưởng từ xã hội. Và lối suy nghĩ intersubjective được áp dụng khi người ta dùng đến các đại danh từ phân chia là chúng ta (chúng tôi) và họ. Nhóm thứ nhất mang tính intimacy và friendship còn cái thứ hai là impersonal associations.

Nhiều nhà xã hội học như Berger và Luckmann (1967) đi thêm một bước nữa, cho rằng không có tồn tại bản thể xã hội (social reality) một cách khách quan do nó được các thành viên trong xã hội xây dựng nên, và cấu trúc xã hội chính là do typification tạo thành. Hai lão này khám phá ra hai xu hướng của phenomenon là reification (tự tồn tại độc lập) và legitimation (cơ cấu institutional được giải tỏa và công nhận). Phenomenon là sản phẩm của actions và interactions của individual. Nhưng mà cái đoạn này lại bắt đầu lủng củng khó hiểu rồi, thôi tạm nghỉ vậy.

Hóa ra mình ngừng đi ăn chè đậu đen là đúng lúc, vì nếu lúc nãy cố thêm chút là có thể tẩu hỏa nhập ma hoặc giảm võ công rồi. Tại vì đúng là thuyết của Berger và Luckmann bị chỉ trích nặng nề vì dám phủ nhận sự tồn tại (khách quan) của social reality, nhưng đằng sau có lẽ do đã kết hợp Marxism (reification và legitimation) với Webernism – vốn là 2 nhân sinh quan khác nhau trong xã hội học (bữa nào sẽ viết thêm nhiều về 4 hệ thống paradigms khó hòa trộn trong nghiên cứu xã hội), bị coi là a collection of abstract concepts than a coherent theory.

Nếu muốn đọc thêm về Phenomenology ở tầm triết thì trong này có khá đủ, dù Wikipedia không được coi là nguồn trích dẫn đáng tin cậy trong luận án khoa học http://en.wikipedia.org/wiki/Phenomenology (tiếng Anh) hoặc bằng tiếng Ba Lan trong này http://pl.wikipedia.org/wiki/Fenomenologia. Chính xác phainomenon trong tiếng Hi Lạp tức là cái gì đó xuất hiện – co sie jawi, tức là nhìn sự vật theo cái cách mà nó xuất hiện.Theo Husserl ngành phenomenology là “the reflective study of the essence of consciousness as experienced from the first-person point of view”

Quên mất cái vụ trích dẫn, mấy cái ý ở đoạn trên lấy từ Mel Churton 2000, Theory and Method, MacMillan Press TLD, London.

Tags:

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s


%d bloggers like this: